Như Thanh

100%

Giới thiệu tổng quát về huyện Như Thanh

1.  Vị trí địa lý 

Huyện Như Thanh là một huyện miền núi nằm về phía Tây Nam của tỉnh Thanh Hóa, có giới hạn địa lý từ 19o48’11’’ đến 19o21’57’’ vĩ độ Bắc và từ 105o26’45’’ đến 105o39'46’’ kinh độ Đông. Như Thanh có 17 xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 58.809,31 ha, chiếm 5,3% diện tích toàn tỉnh.

Vị trí địa lý của Như Thanh rất thuận lợi, nối thành phố Thanh Hóa với vùng công nghiệp phía Tây - Nam của vùng kinh tế Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung. Hiện nay Như Thanh đã được xác định là huyện nằm trong tốp đầu của khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa, trên địa bàn huyện sẽ hình thành các khu đô thị mới trong tương lai. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để tạo điều kiện cho Như Thanh phát triển mạnh trong giai đoạn từ nay tới năm 2025. Trong phát triển kinh tế, ngoài việc chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỉnh Thanh Hóa, huyện còn chịu ảnh hưởng gián tiếp của việc phát triển vùng kinh tế Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung.

Vị trí địa lý huyện Như Thanh trên bản đồ tỉnh Thanh Hóa

2. Đặc điểm tự nhiên.

- Điều kiện về địa hình, địa chất của huyện Như Thanh tương đối phức tạp, cao thấp xen kẽ lẫn nhau, độ cao trung bình xấp xỉ 100m so với mặt nước biển, phía Tây có hệ núi đồi chạy song song với hồ sông Mực, độ cao trung bình 200 – 300m,  phía Nam và phía Bắc là dãy đồi núi thấp xen kẽ núi đá vôi, địa hình ít phức tạp hơn, độ cao trung bình 100 – 150m, độ dốc từ 15 - 25o. Địa hình, thoải dần từ tây bắc xuống đông nam (phía bắc huyện) và từ tây nam xuống đông bắc (phía nam huyện).

Do đặc điểm về địa hình Như Thanh có thể được chia thành nhiều tiểu vùng khác nhau như: Tiểu vùng núi đá vôi xen kẽ thung lũng; Tiểu vùng đồi núi xen kẽ đồng bằng; Tiểu vùng ven hồ sông Mực; tiểu vùng đồng bằng,... Với đặc điểm về địa hình như vậy, Như Thanh có nhiều điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp với nhiều loại sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao.

- Điều kiện về khí hậu, thủy văn: Như Thanh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, một năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh có sương giá, ít mưa, độ ẩm thấp, trời khô hanh. Mùa hè nóng nực có gió tây nam khô nóng, mưa nhiều, có giông bão xảy ra từ tháng 7 đến tháng 10 kèm theo lốc, lũ lụt.

Nhiệt độ không khí trung bình năm 23oC, biên độ nhiệt từ 7oC - 10oC. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 39 - 40oC vào tháng 7, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 5 - 6oC vào tháng 12, tháng 1. Tổng số giờ nắng trong năm 1.600 - 1.900 giờ. Độ ẩm bình quân năm 86,0% cùng với lượng mưa trung bình năm từ 1.600 - 1.800 mm, thường tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 (chiếm trên 85% lượng mưa cả năm), nhiều nhất là các tháng 7, tháng 8 và tháng 9.

Như Thanh có 3 con sông lớn chảy qua đó là: sông Mực, sông Nhơm và sông Thị Long. Ngoài ba con sông lớn trên, Như Thanh còn có rất nhiều khe suối nhỏ cùng với hệ thống các hồ đập trong địa bàn huyện như: Hồ Yên Mỹ, hồ Đồng Bể, hồ sông Mực…

3. Tài nguyên thiên nhiên chủ yếu.

3.1. Tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất.

* Về tính chất đất

Theo kết quả điều tra phân loại đất của huyện Như Thanh chủ yếu là đất được bồi đắp do hệ thống sông Mực, sông Nhơm và sông Thị Long; khu vực phía Bắc của huyện là vùng đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, tại khu vực phía tây đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình. Vùng đất giữa huyện có thành phần chủ yếu là thịt nhẹ và cát pha, khu vực phía nam của huyện là đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, một số nơi ven hồ sông Mực và hồ Yên Mỹ đất có hiện tượng bị úng ngập về mùa mưa.

Nhìn chung, huyện Như Thanh có tiềm năng về đất đai. Về tính chất thổ nhưỡng, có nhiều loại đất khác nhau, thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, đặc biệt là trồng rừng gỗ lớn và các cây công nghiệp khác như: cao su, mía, sắn... khu vực đồi thấp thích hợp cho phát triển các loại cỏ chăn nuôi đại gia súc, cây ăn quả, mía, đậu, lạc, ngô.

* Hiện trạng sử dụng đất: Theo số liệu thống kê đất đai năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Như Thanh ở năm 2015 là 58.809,31 ha; trong đó diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp 48.580,33ha (chiếm 82,6% diện tích tự nhiên); đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp là 7.850,08 ha (chiếm 13,3% DTTN); diện tích đất chưa sử dụng là 2.378,9 ha (chiếm 4,1% DTTN).

Bảng 1 - Hiện trạng sử dụng đất thời kỳ 2011– 2015

STT

Chỉ tiêu

Thực hiện các năm

Tăng, giảm
(+,- ha)

Năm 2010

Năm 2015

Diện tích
(ha)

Cơ cấu
(%)

Diện tích
(ha)

Cơ cấu
(%)

 

Tổng diện tích đất tự nhiên

 

58.829,08

100,00

58.809,31

100,00

-19,77

1

Đất nông nghiệp

NNP

43.760,71

74,39

48.580,33

82,61

4.819,62

1.1

Đất trồng lúa

DLN

3.787,51

6,44

3.667,02

6,24

-120,49

 

 + Đất chuyên trồng lúa nước

LUC

3.502,85

5,95

3.448,02

5,86

-54,83

1.2

Đất trồng cây hàng năm

HNK

3.376,13

5,74

3.613,37

6,14

237,24

1.3

Đất trồng cỏ chăn nuôi

COT

11,64

0,02

 

-

-11,64

1.4

Đất trồng cây lâu năm

CLN

3.241,50

5,51

2.979,84

5,07

-261,66

1.5

Đất rừng phòng hộ

RPH

10.119,35

17,20

8.821,20

15,00

-1.298,15

1.6

Đất rừng đặc dụng

RDD

3.775,30

6,42

3.539,60

6,02

-235,70

1.7

Đất rừng sản xuất

RSX

19.117,11

32,50

19.568,10

33,27

450,99

1.8

Đất nuôi trồng thuỷ sản

NTS

302,17

0,51

277,12

0,47

-25,05

1.9

Đất nông nghiệp khác

NKH

30,00

0,05

6.114,08

10,40

6.084,08

2

Đất phi nông nghiệp

PNN

9.246,49

15,72

7.850,08

13,35

-1.396,41

2.1

Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình SN

TSC/DTS

22,81

0,04

25,03

0,04

2,22

2.2

Đất quốc phòng

CQP

169,40

0,29

132,40

0,23

-37,00

2.3

Đất an ninh

CAN

0,58

0,00

0,69

0,00

0,11

2.4

Đất cơ sở sản xuất kinh doanh

SKC

30,82

0,05

20,43

0,03

-10,39

2.5

Đất sản xuất vật liệu XD gốm sứ

SKX

5,99

0,01

9,99

0,02

4,00

2.6

Đất cho hoạt động khoáng sản

SKS

836,22

1,42

722,94

1,23

-113,28

2.7

Đất có di tích LS-VH

DDT

3,80

0,01

3,54

0,01

-0,26

2.8

Đất xử lý, chôn lấp chất thải

DRA

3,48

0,01

1,67

0,00

-1,81

2.9

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

TTN

0,19

0,00

2,36

0,00

2,17

2.10

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

NTD

184,31

0,31

198,72

0,34

14,41

2.11

Đất có mặt nước chuyên dùng

SMN

3.414,20

5,80

1.758,80

2,99

-1.655,40

2.12

Đất sông, suối, kênh, rạch

SON

901,57

1,53

924,06

1,57

22,49

2.13

Đất phát triển hạ tầng

DHT

1.433,11

2,44

1.860,69

3,16

427,58

 

 + Đất giao thông

DGT

   

1.067,20

1,81

1.067,20

 

 + Đất thủy lợi

DTL

   

666,37

1,13

666,37

 

 + Đất cơ sở văn hóa

DVH

17,26

0,03

2,00

0,00

-15,26

 

 + Đất cơ sở y tế

DYT

6,00

0,01

7,25

0,01

1,25

 

 + Đất giáo dục đào tạo

DGD

57,12

0,10

53,03

0,09

-4,09

 

 + Đất cơ sở thể dục, thể thao

DTT

46,83

0,08

50,28

0,09

3,45

 

 + Đất phát triển hạ tầng còn lại

DHT

1.305,90

2,22

14,56

0,02

-1.291,34

2.14

Đất ở đô thị

ODT

77,57

0,13

77,88

0,13

0,31

2.15

Đất ở nông thôn

ONT

2.162,33

3,68

2.078,69

3,53

-83,64

2.16

Đất phi nông nghiệp khác

PNK

0,11

0,00

32,19

0,05

32,08

3

Đất chưa sử dụng

CSD

5.821,88

9,90

2.378,90

4,05

-3.442,98

3.1

Đất chưa sử dụng còn lại

 

5.821,88

9,90

2.378,90

4,05

-3.442,98

(Nguồn: Phòng Tài nguyên & MT huyện Như Thanh).

Từ nay đến năm 2025 và năm 2030, nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp cho phát triển kinh tế-xã hội là khá lớn. Tuy nhiên, do quỹ đất chưa sử dụng phần lớn là đất đồi núi và núi đá, nên quỹ đất dự trữ cho phát triển thực tế không còn nhiều. Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, cần chuyển đổi mục đích sử dụng và bố trí sử dụng quỹ đất dự trữ hợp lý, nhằm đảm bảo cho phát triển kinh tế-xã hội bền vững.

3.2. Tài nguyên rừng và hiện trạng sử dụng rừng.

Theo Quyết định số 5429/QĐ-UBND ngày 24/12/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt và công bố kết quả kiểm kê rừng tỉnh Thanh Hóa, huyện Như Thanh diện tích có rừng là 31.928,9ha. Trong đó: Rừng đặc dụng: 3.539,60 ha, rừng phòng hộ: 8.821,20 ha, rừng sản xuất: 19.568,10 ha (trong đó diện tích ngoài 3 loại rừng là 2.916,3ha). Với trữ lượng rừng đạt từ 45 – 150 m3/ha.

Nhờ sự đa dạng của các yếu tố sinh thái, địa hình và thổ nhưỡng mà hệ động thực vật trên địa bàn huyện khá đa dạng và phong phú, rừng Như Thanh là nơi hội tụ của nhiều động, thực vật. Qua kết quả điều tra động, thực vật tại khu đặc dụng ở vườn Quốc gia Bến En thì thực vật đã có tới 1.357 loài, thuộc 902 chi, 195 họ, của 6 ngành, động vật có 91 loài thú, 261 loài chim, 54 loài bò sát, 31 loài ếch nhái, 499 loài côn trùng. Có một số loài động vật quý hiếm như: Gấu ngựa, khỉ mặt đỏ, Voọc xám, Voọc má trắng...

Trữ lượng rừng qua số liệu cập nhật được ước tính 1.354.668m3 gỗ và 19.127,1 nghìn cây tre nứa vầu. Rừng gỗ hiện nay thuộc loại rừng non, rừng nghèo, rừng trung bình và rừng trồng các loại, rừng tre, nứa, vầu cũng đều ở tình trạng nghèo là chủ yếu. 

Rừng của Như Thanh tuy rất phong phú và đa dạng về chủng loại loài, nhưng do quá trình khai thác không đi đôi với bảo vệ rừng nên rừng tự nhiên bị cạn kiệt. Đến nay rừng tự nhiên chỉ còn tập trung ở khu vực vườn quốc gia Bến En và chủ yếu là rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh không còn, vì vậy rừng của Như Thanh đang có xu hướng nghèo về chất lượng và chủng loại động thực vật rừng.

Trong những năm qua Như Thanh không có kế hoạch khai thác chính rừng tự nhiên, mà chỉ khai thác gỗ rừng trồng theo luân kỳ trồng rừng sản xuất.

3.3. Tài nguyên nước.

Nguồn nước mặt: Huyện Như Thanh có 3 sông chính đó là sông Mực, sông Nhơm và sông Thị Long (Trong đó Sông Mực có lưu vực lớn nhất khoảng 236 km2). Ngoài ra Như Thanh còn có rất nhiều khe suối nhỏ cùng với trên 100 hồ, đập lớn nhỏ như: Hồ sông Mực, Yên Mỹ, Đồng Bể,... đảm bảo phục vụ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp của các huyện Triệu Sơn, Nông Cống, Tĩnh Gia và Như Thanh.

Nguồn nước ngầm: Do điều kiện địa hình nên mực nước ngầm sâu (từ 35 - 40m). Vì vậy ở Như Thanh nước ngầm khá sạch song vì ở sâu nên tầng canh tác không được chịu sự ảnh hưởng của nước ngầm. Nếu có điều kiện khai thác thì phục vụ nước sinh hoạt hay tưới cho lúa nước đều rất tốt.

Như Thanh có hàng nghìn ha diện tích mặt nước Sông, Hồ để phục vụ phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản, mặt khác đây cũng chính là vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành du lịch sinh thái...

3.4. Tài nguyên khoáng sản.

Được thiên nhiên ưu đãi, huyện Như Thanh có trữ lượng khá lớn các loại khoáng sản như đá vôi, đá hoa, cát xây dựng, Crôm, v.v... Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp sản xuất phụ gia xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng...

Theo kết quả thăm dò trên địa bàn 2 xã Xuân Khang và Hải Vân có trữ lượng đá hoa làm vật liệu xây dựng. Khoáng sản kim loại có chì, kẽm tại xã Xuân Thái. Điểm sắt ở xã Thanh Kỳ, Thanh Tân. Quặng Crôm ở dọc dãy núi Nưa gồm có xã Mậu Lâm, Phú Nhuận, Phượng Nghi, đá phụ gia xi măng ở Thanh Kỳ, Yên Lạc và Thanh Tân, đá vôi, cát xây dựng được phân bố dọc theo dải tại các xã Phúc Đường, Xuân Phúc, Hải Vân, Hải Long, Xuân Khang. Ngoài ra còn có một lượng than đá và bùn lớn đã được thăm dò nhưng đang còn non chưa được khai thác nằm ở dải Xuân Du, Cán Khê, Xuân Thọ...

Bảng 2 - Trữ lượng các loại khoáng sản được cấp phép đang khai thác

TT

Loại khoáng sản

Diện tích (ha)

Trữ lượng

Tổng trữ lượng

Đã khai thác

Còn lại

1

Phụ gia xi măng

60,70

2.865.000 m3

2.300.000 m3

565.000 m3 

2.

Đá vôi

88,88

141.559.000 m3

9.874.500 m3

131.684.750 m3

3.

Cromit

222,10

282.460 m3

230.000 m3

60.000 m3

4.

Quặng Sắt

33,23

400.000 tấn

350.000 tấn

50.000 tấn

5

Mỏ Đất

17,74

150.000 m3 

70.000 m3 

80.000 m3

(Nguồn: Phòng Công thương huyện Như Thanh)

Có thể nhận thấy, tiềm năng khoáng sản của huyện Như Thanh khá phong phú. Tuy nhiên, chủ yếu là khoáng sản phi kim loại. Khoáng sản kim loại mặc dù chưa có đánh giá chính xác về trữ lượng nhưng đánh giá sơ bộ thì nguồn tài nguyên này chưa đủ để khai thác trên quy mô công nghiệp.

3.5. Tài nguyên du lịch.

Tài nguyên du lịch được hình thành từ hai yếu tố: yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội, nhân văn.

* Yếu tố tự nhiên:

Huyện có Vườn Quốc gia Bến En, cách trung tâm huyện 9km về phía tây với tổng diện tích tự nhiên 14.734,67 ha trong đó hơn 4.000ha mặt nước với 21 hòn đảo lớn nhỏ được bao bọc bởi các dãy núi đá, núi đất, rừng cây, tạo ra cảnh quan sơn thuỷ hữu tình. Đây là khu bảo tồn các nguồn gen động, thực vật quý hiếm không chỉ phục vụ cho nghiên cứu khoa học mà còn là nơi tham quan, du lịch sinh thái lý tưởng. Hồ nước ở Bến En trong xanh và rộng, nên đứng từ xa quan sát du khách có cảm giác như đang ngắm nhìn một Hạ Long trên núi. Ngoài ra Như Thanh còn có Hồ Yên Mỹ, có nhiều hang động như hang Lèn Pót xã Xuân Thái, hang Ngọc xã Xuân Khang.

Có thể nói, tài nguyên cảnh quan của huyện Như Thanh, chứa đựng một tiềm năng du lịch to lớn. Nếu tiềm năng ấy được đầu tư khai thác sẽ là tiền đề cho việc phát triển của ngành du lịch địa phương.

* Tài nguyên nhân văn:

Dân cư của Như Thanh là một cộng đồng nhiều dân tộc anh em sinh sống (Kinh, Mường, Thái và một số ít dân tộc khác). Mỗi dân tộc có một phong tục, tập quán, tiếng nói, trang phục, những món ăn đặc thù với bản sắc và truyền thống văn hoá khác nhau.

Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên mang tính đặc trưng, Như Thanh còn là vùng đất giàu truyền thống văn hoá, lịch sử cách mạng đã để lại nhiều công trình văn hóa vật thể và phi vật thể, với những dấu tích lịch sử như: Hang Lò Cao Kháng chiến xã Hải Vân được gắn với tên tuổi Giáo sư Trần Đại Nghĩa và Kỹ sư Võ Quý Huân, được xây dựng năm 1949 để sản xuất gang, thép phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp. Như Thanh còn có nhiều di tích tâm linh như đền Mẫu Phủ Sung (xã Hải Vân), đền Phủ Na (xã Xuân Du), đền Bạch Y Công Chúa (xã Phú Nhuận), đền Đức Ông Khe Rồng (thị trấn Bến Sung).

Như Thanh có những lễ hội truyền thống, tiêu biểu như Lễ hội Rước Bóng đền Phủ Na, lễ hội Kiên Chiêng Booc Mạy dân tộc Thái, Mường ở làng Rộc Răm xã Xuân Phúc và nhiều loại hình văn hóa dân gian vẫn còn lưu giữ trong sinh hoạt văn hoá của đồng bào dân tộc, như: Khặp Thái, hát dân ca, hát ru, xường của dân tộc Mường, hiện vẫn đang được các dân tộc gìn giữ. Nhiều ngành, nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, nghề mây tre đan, nghề đan bẹ chuối, nghề thêu, làm hương bài...

Về tài nguyên du lịch ở huyện Như Thanh rất phong phú và đa dạng, có thể khai thác trên các mặt: Du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, văn hoá lịch sử và tâm linh. Các tài nguyên du lịch này hiện còn nguyên vẻ hoang sơ và tạo thành một chuỗi liên hoàn. Nếu đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng đồng thời nâng cấp, tôn tạo phát huy giá trị của các khu di tích lịch sử và danh thắng chắc chắn sẽ có sức thu hút đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Là một huyện có có nguồn tài nguyên du lịch rất lớn nhưng trong những năm qua khả năng khai thác các tiềm năng này để phát triển kinh tế - xã hội còn khá khiêm tốn. Phần lớn khách du lịch về tham quan Vườn quốc gia Bến En và Di tích danh thắng Phủ Na.

DÂN SỐ

1. Về quy mô, chất lượng dân số.

Dân số trung bình của huyện năm 2015 là 90.441 người, gồm có 4 dân tộc anh em cùng sinh sống (trong đó: dân tộc Kinh có 53.205 người chiếm 58,8%, dân tộc Mường có 21.578 người chiếm 23,9%,dân tộc Thái có 15.420 người chiếm 17%, dân tộc Thổ có 238 người chiếm 0,3%).

Mật độ dân số của Như Thanh đạt khoảng 153,7 người/km2; dân số của Như Thanh phân bố không đều, thị trấn Bến Sung là nơi có mật độ dân số cao nhất của huyện 1.131người/km2, Xuân Thái là xã có mật độ dân số thấp nhất 30 người/km2. Trong những năm qua Như Thanh đã thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, tỷ lệ tăng tự nhiên cũng có giảm nhưng không nhiều từ 0,84% ở năm 2010 xuống còn 0,81% vào năm 2015. Hiện nay trên toàn huyện đã phổ cập tiểu học và trung học cơ sở. Các biện pháp nhằm nâng cao dân trí đã được các cấp, các ngành, các đoàn thể quan tâm và phát triển mạnh mẽ.

Bảng 3 - Tình hình dân số thời kỳ 2011 - 2015

Đơn vị: người

Chỉ tiêu

2010

2015

Số lượng

%

Số lượng

%

1. Dân số trung bình

86.629

100

90.441

100

Trong đó: - Nam

43.527

 

46.217

 

                 - Nữ

43.102

 

44.224

 

2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (%)

0,84

 

 

0,81

3. Cơ cấu dân số theo lãnh thổ

-

100

-

100

- Thành thị

5.465

6,3

5.600

6,2

- Nông thôn

81.165

93,7

84.841

93,8

Nguồn: Niên giám thống kê Như Thanh

Trong những năm qua (từ 2011 - 2015), tỷ lệ dân số thành thị so với tổng dân số trung bình của huyện hầu như ít thay đổi qua từng năm (chỉ dao động trong khoảng 6,3 - 6,2%). Đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ đô thị hoá của huyện còn ở mức thấp theo xu hướng giảm dần so với các nơi khác của vùng miền núi, mặc dù Như Thanh là huyện có điều kiện để đô thị hoá trên địa bàn.

2. Về quy mô, chất lượng lao động.

Số nhân khẩu trong độ tuổi lao động của huyện đến năm 2015 là 55.739 người (chiếm 62%) dân số. Trong đó số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của huyện là: 47.378 người chiếm 52,7% dân số. Hiện nay lao động của huyện chủ yếu tham gia sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 70% so với số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế.

Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế (Nguồn: Niên giám thống kê Như Thanh)

Cùng với sự gia tăng dân số, lượng lao động sẽ ngày càng tăng. Trong vài năm gần đây, Như Thanh đã thực hiện chương trình giải quyết việc làm cho người lao động, bình quân hàng năm huyện đã tạo việc làm mới cho hàngnghìn người lao động. Cơ cấu lao động có hướng chuyển dịch nhưng chậm, tỷ lệ lao động ngành nông lâm thủy sản giảm từ 84,3% năm 2010 xuống còn 70% năm 2015; ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 5% lên 12%; ngành dịch vụ tăng từ 10,7% lên 18%, thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện chưa mạnh, mức độ phát triển đô thị còn hạn chế trong những năm qua.

Về chất lượng lao động: Lao động phổ thông là chủ yếu, số lao động được đào tạo hiện nay chỉ chiếm khoảng 23% số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với huyện, đó là phải có kế hoạch đào tạo lại, đào tạo mới nguồn lao động thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá của cả nước nói chung và huyện Như Thanh nói riêng.

Hình 2 - Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế

 

            Nguồn: Niên giám thống kê Như Thanh

Đánh giá của bạn về cổng thông tin điện tử
97 người đã bình chọn
139 người đang online