Cổng thông tin điện tử tỉnh thanh hóa

Huyện Như Thanh

Thứ năm, ngày 11 tháng 8 năm 2022

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ ĐỀN THỜ BẠCH Y CÔNG CHÚA THÔN PHÚ SƠN, XÃ PHÚ NHUẬN, HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HOÁ

Đăng ngày 17 - 02 - 2021
100%

Đền thờ Bạch Y Công chúa xưa thuộc xã Hạ Bồng, châu Như Xuân, nay là làng Phú Sơn, xã Phú Nhuận, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá. Tên gọi này là lấy tên vị thần Bạch Y Công chúa được thờ ở đền để gọi.

Ngoài ra nhân dân địa phương còn gọi là đền Chúa Thượng Ngàn, bởi vì Bạch Y Công chúa được thờ ở đây chính là sự phân thể của vị thần Chúa Thượng Ngàn (Sẽ trình bày ở phần sau). Còn một tên gọi khác nữa là đền Hạ Bồng – Địa danh này vốn được người Mường khai phá từ thế kỷ thứ XIX và đặt tên làng, sau đó lập đền thờ Bạch Y Công Chúa.

Trong 3 tên gọi trên thì tên gọi đền thờ Bạch Y Công chúa được nhân dân địa phương quen gọi hơn cả. Và nó đã trở thành tiềm thức trong đời sống sinh hoạt của cư dân làng Hạ Bồng từ xưa cho đến hôm nay.

II. ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ DI TÍCH VÀ ĐƯỜNG ĐI ĐẾN

Làng Phú Sơn ngày nay, xưa có tên là xã Hạ Bồng, thuộc châu Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Tên gọi này thấy xuất hiện trong các sắc phong cho các vị thần ở làng Hạ Bồng vào đời vua Thành Thái thứ 7 (1896) cho đến đời vua Khải Định thứ 7 (1923); Trước đó trong các tài liệu Địa chí cùa triều Lê, Nguyễn không thấy địa danh này. Có lẽ chỉ từ sau năm 1858, ông Bùi Văn Dũng cùng người cháu của mình là Bùi Văn Ạch từ Lạc Lâm – Lạc Sơn – tỉnh Hoà Bình đến đây khai hoang lập ấp, dựng nhà thờ mới đặt tên cho vùng đất mới được khai phá này là Bồng Sơn. Đến thời vua Thành Thái được đổi là xã Hạ Bồng và trở thành một đơn vị hành chính của châu Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá1; Đến đời vua Khải Định thứ 9 (1925) xã Bồng Hạ được gọi với một cái tên mới là chòm Hạ Bồng.

Đến năm 1930, Hạ Bồng có thêm 4 dòng họ nữa là họ Nguyễn, họ Phạm, họ Bùi, họ Lê đến khai phá vùng đất này, dần dần dân số ngày một đông lên và hình thành nên 3 làng đó là: Làng Bồng Sơn, làng Đức Nhuận và làng Bồng Thượng.

Từ năm 1960-1963, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đưa nhân dân miền xuôi lên khai hoang xây dựng miền núi, làng Bồng Sơn đón nhận thêm các hộ nông dân từ xã Hoằng Đại – Hoằng Hoá đến đây, dân số được tặng lên đáng kể. Tiếp theo đó, thực hiện chủ trương của Đảng bộ Phú Nhuận, sát nhập 3 làng trên thành 2 hợp tác xã là hợp tác xã Bồng Sơn và hợp tác xã Phú Nhuận. Năm 1972, thực hiện chủ trương của Nhà nước thành lập hợp tác xã lớn, lúc này sát nhập hợp tác xã nhỏ thành hợp tác – hợp tác xã Xuân Phú toàn xã ra đời (Lúc này Bồng Sơn là đội 13). Năm 1980 hợp tác xã Xuân Phú lại được tách ra thành 6 hợp tác xã nhỏ; 3 làng Bồng Sơn, Đức Nhuận, Bồng Thượng sát nhập và thành một hợp tác xã mới mang tên là hợp tác xã Phú Sơn. Năm 1992, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước xoá bỏ mô hình hợp tác xã để quản lý theo thôn, bản, hợp tác xã Phú Sơn được mang tên là làng Phú Sơn, tên làng này tồn tại cho đến hôm nay.

Như vậy, trải qua 146 năm, kể từ khi làng Bồng Sơn được thành lập với một dòng họ Bùi gồm 02 hộ, đến nay làng có 07 dòng họ với 202 hộ; 902 nhân khẩu và có đời sống kinh tế, văn hoá – xã hội phát triển mạnh mẽ về mọi mặt.

Hiện nay, làng Phú Sơn nằm về phía đông xã Phú Nhuận, cách trung tâm UBND hành chính xã 2km về phía tây. Phía bắc giáp làng Khe Sình, núi Nưa và trại giam Thanh Phong; phía đông giáp xã Minh Thọ, huyện Nông Cống; phía tây giáp làng Đồng Sình, phía nam giáp xã vạn Hoà, huyện Nông Cống.

Làng có tổng diện tích tự nhiên 265 ha, có đường liên thôn, liên xã, liên huyện nối liền với huyện lỵ Như Thanh, Nông Cống, vì thế mà rất thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu kinh tế, văn hoá với các vùng.

Đến di tích đền Bạch Y Công Chúa tại làng Phú Sơn, từ thành phố Thanh Hoá, theo quốc lộ 10 về phía tây nam qua huyện lỵ Nông Cống, đến trung tâm huyện lỵ Như Thanh; từ đây có con đường đất rẽ về phía đông khoảng 6km là đến di tích. Đền Bạch Y nằm ở khu vực đồi núi rộng lớn của làng Phú Sơn – vùng đất gần với đồng bằng và tiếp giáp với miền núi cao, vốn được xem là vị trí cửa rừng của xứ Thanh bao la. Đây cũng là địa bàn, vốn được nhân dân xây dựng những khu vực thờ tự liên quan đến Mẫu Thượng Ngàn, một tập tục thờ cúng lâu đời của cư dân Mường – Việt. Các phương tiện như ô tô, xe máy đến di tích rất thuận tiện, dễ dàng.

III. VỊ THẦN ĐƯỢC THỜ TẠI DI TÍCH

Căn cứ vào các đạo sắc phong được các vua nhà Nguyễn phong cho vị thần ở làng Hạ Bồng, huyện Như Thanh thì đền thờ ở đây thờ Bạch Y Công Chúa1. Một bản sắc phong đời vua Khải Định thứ 9 (1925) phong cho thần có ghi: Sắc phong cho “Bạch Y Công Chúa tối linh tôn thần” nơi thờ phụng là chòm Hạ Bồng, châu Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá, thần có công giúp nước, yên dân, nay chính lúc trẫm mừng thọ tuổi 40 nên làm lễ lớn, ban chiếu báu thăng lên một bậc, trứ phong mỹ tự: “Trang vi dực bảo Trung Hưng thượng đẳng thần, chuẩn cho địa phương phụng thờ thần như cũ để thần bảo vệ cho nhân dân của ta”.

Ở các bản sắc phong này chúng ta thấy được tên huý cùng với các thần hiệu với các mỹ tự “Bạch Y Công Chúa… Trang vi dực bảo Trung Hưng thượng đẳng thần”. Danh hiệu và các mỹ tự này chỉ là các từ mang tính chất công thức tán tụng chung chung, thường thấy dùng phổ biến trong các sắc phong thần thời Lê – Nguyễn. Tuy nhiên, qua các đạo sắc phong này cũng cho chúng ta một cơ sở để khẳng định vị thần ở đền Hạ Bồng là Bạch Y Công chúa. Vậy Bạch Y Công chúa là vị thần có nguồn gốc và hành trạng như thế nào đã được nhân dân ở làng Hạ Bồng thờ cúng.

Để làm rõ vị thần Bạch Y Công chúa, ngoài tài liệu sắc phong (Ghi ở phần phụ lục) chúng tôi đã căn cứ  vào tập sách “Địa chí Tôn giáo – Lễ Hội Việt Nam” do NXB Văn hoá – Thông tin Hà Nội ấn hành năm 2004 cho biết: Bạch Y Công chúa là một biến thế của Mẫu Thượng Ngàn, cũng có nơi gọi là “Công chúa La Bình con gái của

Sơn Tinh và Mị Nương, cháu ngoại vua Hùng” được giao“Cai quản 81 cửa rừng của cõi Nam Giao”1. Như vậy, vị thần Bạch Y Công chúa là một cách gọi khác, một sự thể hiện khác của đạo Mẫu mà thôi. Điều này còn được thể hiện trong hoạt động thờ cúng của cộng đồng cư dân ở vùng này từ trước cách mạng tháng Tám 1945. Ở đây, việc bài trí thờ cúng (Như người gia ở vùng này kể lại) trong đền Hạ Bồng chính là thờ Tứ phủ công đồng là hệ thống sáng tạo ra vũ trụ trong đó vị chủ thần chính là Bạch Y Công chúa, một phân thể của chúa Thượng Ngàn – người cai quản ở vùng cửa rừng vùng rừng núi phía tây của huyện Nông Cống trước đây. Vì thế mà đền Hạ Bồng cũng được gọi là phủ Mẫu. Phủ là một quan niệm về vũ trụ của người Việt, bao gồm 4 không gian (Tứ phủ); không gian miền trời tượng trưng cho màu đỏ, với những vị thần chỉ giơ một ngón tay; không gian miền núi, tượng trưng là màu xanh, với những vị thần giơ hai ngón tay; không gian mặt nước, tượng trưng là màu trắng, với những vị thần giơ ba ngón tay; không gian mặt đất, tượng trưng là màu vàng, với những vị thần giơ bốn ngón tay. Tứ phủ chia ra các hệ thống ngành: Tứ Phủ công đồng là hệ thống sáng tạo vũ trụ. Công đồng có nghĩa là hội họp tất cả chư linh, tiên thánh. Tứ phủ chầu bài là hệ thống quản lý. Tứ phủ Quan hoàng là hệ thống thi hành. Tứ phủ Thánh cô, Tứ phủ Thánh cậu là hệ thống phụ tá. Dưới hệ thống ngành còn có hệ thống chi, hệ thống phái. Vị tổng chỉ huy toàn bộ hệ thống này là một vị nữ thần, được gọi là Mẫu (mẹ). Mẫu có thể là Liễu Hạnh, hay một vị thần khác. Có thể đây là một vũ trụ quan về sinh thái nhân văn trong một môi trường vật lý: đất, trời, núi, sông.

Đền thờ vị thần Bạch Y Công chúa nay thuộc xã Phú Nhuận, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá được coi là nơi Chúa Thượng Ngàn cai quản. Vị nữ thần vị thần Bạch Y Công chúa vốn được hoá thân là Mẫu Thượng Ngàn. Bà vốn là con gái của Sơn Tinh và Mỵ Nương. Sơn Tinh chính là Đức thánh Tản Viên (Tản Viên hựu thánh khuông Quốc hựu Ứng vương). Sách Giao chỉ ký của Tăng Cương viết: Vương là Sơn Tinh (Thần núi) cùng với Thuỷ Tinh (Thần nước) kết bạn, ở ẩn trong động Gia Ninh, thuộc về Phong Châu.

Khi ấy, vua Hùng có một người con gái tên là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Vua nước Thục sai sứ sang cầu hôn, Hùng Vương định gả. Có Quan Đại Thần là Lạc

Hầu tâu rằng: “Không nên! Họ định mượn cớ cầu hôn để ngấp nghé nước ta đó”. Hùng Vương sợ không gả con gái thì gây hiềm khích. Lạc Hầu tâu rằng: “Đại Vương trị vì một đất nước rộng, dân đông, nay kén một người có tài cao thuật lạ, cho làm rể, rồi đặt binh mai phục để đợi, thì còn lo chi!”. Hùng Vương nghe lời bèn mới không gả con cho vua Thục, rồi đi khắp trong nước kén lấy người có thuật lạ. Vương và Thuỷ Tinh đều ra ứng tuyển. Hùng Vương sai thử phép thuật hai người: Vương thì trông suốt quan được ngọc, đá, còn Thuỷ Tinh thì xuống nước, vào lửa đều được cả. Thấy hai người đều có thuật linh thông, Vua lấy làm mừng, bảo Lạc Hầu rằng: “Hai người đều đáng làm rể; nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào?”. Lạc Hầu tâu: “Xin vua hẹn: Hễ ai dẫn lễ cưới đến trước thì gả”. Vua nghe lời , hẹn hai người về sửa lễ. Vương về, ngay đêm hôm ấy sủa soạn đủ thứ vàng, bạc, ngọc quý, tê, voi cùng các giống chim muông thú lạ, mỗi thứ tới hàng trăm, sớm hôm sau đem đến dâng vua. Hùng Vương mừng gả luôn nàng Mỵ Nương cho Vương đón về nghỉ ở Lôi Sơn. Đến buổi chiều, Thuỷ Tinh cũng sắm đủ các thứ trân châu, đồi mồi, san hô và các giống cá lạ, mỗi thứ tới hàng trăm. Nhưng đến nơi thì Sơn Tinh đã lấy được Mỵ Nương đem về rồi. Thuỷ Tinh nổi giận bèn đem quân đuổi theo định phá Lôi Sơn. Nhưng bấy giờ Vương đã về ở trên núi Tản. Thuỷ Tinh không làm gì được từ đó căm thù mãi, mỗi năm đến mùa thu lại dâng nước lên đánh núi Tản Viên. Dân ở vùng ấy kết gỗ thành hàng rào để làm viện trợ, giữ chân núi, Thuỷ Tinh không phạm tới được. Những dấu tích thiêng liêng của Đại Vương rất nhiều, không thể nào thuật hết ra được.

Thần thoại về trận chiến giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh vì nàng Công chúa sắc nước hương trời của Vua Hùng đã phản ánh thực tế cuộc sống cũng như ước vọng của cư dân Lạc Việt trong cuộc đấu tranh gian khổ với thiên nhiên khắc nghiệt của châu thổ Bắc Bộ. Trong buổi đầu hoang sơ, từ rừng núi xuống trung du, từ rừng sâu ra cửa sông, con người luôn luôn cảm thấy nhỏ bé, yếu đuối trước thiên nhiên nên hằng nung nấu có vị thần trị thuỷ tài trí, mạnh mẽ như thần Tản Viên phù trợ cho cuộc sống còn nhiều gian truân của mình.

 Vị thần Bạch Y Công chúa là con gái của thần núi Tản Viên và Mỵ Nương là lớp nhân vật anh hùng huyền thoại với kỳ tích dựng nước và giữ nước. Những kỳ tích ấy cũng phản ánh ước vọng và theo dòng thời gian, nâng lên thành tín ngưỡng, ngày càng sâu đậm trong tâm thức của cư dân Việt trồng lúa nước. Đấy là một hình thức tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam. Đấy cũng là “một cách nhìn từ thực tế cuộc sống cộng đồng, con người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng ấy, con người ấy tin theo tôn thờ, lễ bái, cầu mong cho cuộc sống, gây thành một nếp sống theo niềm tin thiêng liêng ấy”1. Vì thế vị thần Bạch Y Công chúa được cộng đồng ở cư dân Hạ Bồng hư cấu tưởng tượng cho một phẩm cách anh hùng, coi giữ một vùng núi rừng rộng lớn phía tây nam Thanh Hoá trong công cuộc bảo vệ, giữ gìn vùng đất ấy.

Vị thần Bạch Y Công chúa không những được thở ở Hạ Bồng, huyện Như Thanh mà còn được thờ ở nhiều nơi trong các huyện miền xuôi, miền núi của tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An (Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Quỳ Hợp, Tùng Dương, Quốc Phong). Vị thần này được giao cai quản 81 cửa rừng của cõi Nam Giao.

IV. KHẢO TẢ DI TÍCH

Đền thờ Bạch Y Công chúa đã bị phá huỷ trong những năm kháng chiến chống Pháp; Mặt khác những tài liệu thành văn ghi chép về việc dựng đền đến nay cũng không còn lưu giữ được, do đó việc xác định niên đại dựng đền một cách chính xác là một vấn đề cần phải được nghiên cứu để bổ sung.

Tuy nhiên căn cứ vào thời điểm dọng họ Bùi tại Lạc Sơn đến vùng đất Hạ Bồng khai phá đất đai dựng làng từ năm 1858 cũng như các đạo sắc phong cho thần Bạch Y Công chúa sớm nhất còn lueu lại ở đền vào đời vua Thành Thái thứ 9 (1909) cho biết đền được dựng vào khoảng cuối thể kỷ XIX.

 Đền thờ trước đây được xây dựng hoàn chỉnh có hệ thống. Kiến trúc đền làm theo kiểu chữ Đinh (J) gồm có Hậu cung và Tiền đường. Nhà Tiền đường là 4 vì kèo được cấu trúc theo kiểu “kèo suốt trụ đinh” đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi, trên đỉnh nóc đắp rồng chầu mặt nguyệt – một kiến trúc truyền thống của cư dân Việt – Mường. Không gian đền được nằm trên quả đồi tròn, thấp xung quan là ruộng nước ở trung tâm lạng Hạ Bồng. Về mặt cảnh quan cũng bao gồm tứ phủ: Nước, cây trên đồi là rừng, diện tích của rừng là đất và trời. Bên trong cũng bố trí theo kiểu truyền thống ở các phủ Mẫu. ở gian giữa được bố trí từ cao xuống thấp theo 4 tầng ăn sâu vào bên  trong Hậu cung. Tầng trên cùng là trời cao, thiên với đủ các vị thần nam lẫn nữ. Phần

trời thấp, trung thiên chỉ gồm có nữ thần, phần thứ 3 tượng trưng cho núi rừng. Trong phần này ngoài bài vị và ngai thờ, còn có hệ thống tượng nam, nữ phụ tá và hổ là động vật tiêu biểu của Thượng Ngàn. Phần thứ 4 là thuỷ phủ. Bên phải chỉ có một bàn thờ Mẫu, bài trí tương tự như bất cứ bàn thờ Mẫu nào trong các phủ, gồm 4 vị và các vị tuỳ tùng. Bên trái là một bàn thờ rộng, đặt tượng Đức Thánh Trần cùng hai con gái là Quế Hoa và Quỳnh Hoa trong đền.

Điều đáng tiếc nhất là tất cả những gì ở đền trước đây mà cư dân Hạ Bồng xây dựng, cùng hệ thống tượng thờ đều bị huỷ hoại gần hết.

Ngày nay, đền thờ Bạch Y Công chúa mới được nhân dân ở đây tôn tạo lại vào năm 2002 là một ngôi nhà nhỏ 2 gian trên nền Hậu cung của đền xưa. Có vì kèo bằng luồng đơn giản. Đền có diện tích chiều dài 4,5m x rộng 3,5m = 15,7m2. Mái đền còn lợp bằng tranh; phía ngoài được đắp hai tượng hộ pháp, với ý nghĩa canh giữ điện thờ. Phía trong chỉ có một bàn thờ duy nhất trên đó được đặt bát hương và ngai thờ Bạch Y Công chúa với các bát hương đại diện cho các ban thờ trước đây. Ngoài ra phía trước đền còn có hai lầu cô, lầu cậu đang ở tình trạng đổ nát.

Nhìn chung, di tích đền Bạch Y Công chúa còn rất sơ sài và nghèo nàn. Tuy nhiên những gì còn lại ở di tích Bạch Y Công chúa như đại tự, long ngai Bạch Y, bát hương, chuông đồng, kiếm thờ, một số đồ thờ cúng khác, đặc biệt là các đạo sắc phong, chứng tỏ sự tồn tại của ngôi đền trong đời sống của cư dân vùng đất cửa rừng Phú Sơn từ xưa cho đến hôm nay vẫn còn có một ý nghĩa lớn lao về mặt tín ngưỡng. Vì thế, di tích sau khi được xếp hạng cần phải được trùng tu, tôn tạo lại nhằm trả lại diện mạo xưa cũng như đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân trong vùng.

V. LOẠI DI TÍCH

Đền thờ Bạch Y Công chúa thuộc loại di tích lịch sử văn hoá.

VI. CÁC HIỆN VẬT TRONG DI TÍCH

Đền thờ Bạch Y Công chúa hiện có những hiện vật sau:

- Bát hương sứ: 10 (8 mới, 2 cũ)

- Bát hương đá: 01 (Cũ)

- Kiếm gỗ: 01 (Cũ)

- Hộp đựng kiếm: 01 (Cũ)

- Chuông đồng: 01 (Cũ)

- Đại tự: 01 (Cũ)

- Long ngai: 01 (Cũ)

- Sắc phong: 04 đạo

VII. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ

- Đền thờ Bạch Y Công chúa thuộc làng Phú Sơn, xã Phú Nhuận là nơi thờ vị nữ thần Bạch Y Công chúa vốn được hoá thân từ Mẫu Thượng Ngàn. Bà là con gái của Sơn Tinh và Mỵ Nương. Sơn Tinh chính là Đức Thánh Tản Viên. Đây cũng chính là nơi thờ Tứ phủ công đồng là hệ thống sáng tạo ra vũ trụ trong đó vị chủ thần chính là Bạch Y Công chúa. Tục thờ này là một hình thức tín ngưỡng đặc trưng và độc đáo của cư dân Việt cổ.

- Thần Bạch Y được xếp vào lớp nhân vật huyền thoại với kỳ tích dựng nước và giữ nước. Những kỳ tích ấy cũng phản ánh ước vọng và theo dòng thời gian nâng lên thành tín ngưỡng ngày càng sâu đậm trong tâm thức của cư dân Việt trồng lúa nước. Việc thờ tự vị thần Bạch Y Công chúa còn phản ánh trong buổi hoang sơ, từ rừng núi xuống trung du, từ rừng sâu về cửa sông, con người luôn luôn cảm thấy nhỏ bé, yếu đuối trước thiên nhiên; mặt khác còn phải đối mặt với giặc ngoại xâm đe doạ sự sống còn của cộng đồng dân cư; xuất phát từ nhu cầu cấp bách thường trực ấy mà họ luôn luôn ước mơ có phép lạ của thần linh phù trợ cho mình cuộc sống xây dựng và chiến đấu. Vì thế mà họ hư cấu tưởng tượng cho thần Bạch Y một phẩm cách cao cả trong bảo vệ và phù trợ cuộc sống cho họ. Vì thế mà thần đi khắp nơi với 81 nơi trong cõi Nam Giao.

- Thông qua tục thờ nữ thần như Bạch Y Công chúa ở làng Phú Sơn, Như Thanh, Bạch Y Nương (ở huyện Cẩm Thuỷ), Bạch Y Diệu linh Công chúa tôn thần (Ở huyện Thọ Xuân)… trong tỉnh Thanh Hoá nói riêng cũng như cả nước nói chung đã góp thêm vào tư liệu cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu về các nhân vật được thờ trong đền (phủ), có loại là nhân vật huyền thoại được lịch sử hoá, có loại là nhân vật lịch sử, có loại là người thực được Tiên hoá, Thánh hoá để tưởng nhớ công đức.

- Tục thờ thần Bạch Y Công chúa ở làng Phú Sơn, xã Phú Nhuận là tục thờ Mẫu gắn liền với bốn miền của sự sáng tạo thể hiện qua các nhân vật mang tính nữ cũng nhằm vào sự đảm bảo tính liên tục của sự kế thừa từ truyền thống đến thế hệ đang sống hôm nay.

- Cũng như các làng khác, đền Bạch Y Công chúa đã bị tàn phá nghiêm trọng nhưng dù sao những vật như đồ thờ và ngôi đền thờ mới được nhân dân tôn tạo, gìn giữ đều liên quan đến đời sống tâm linh của người Hạ Bồng xưa là biểu hiện tấm lòng của con cháu đời sau đối với tiền nhân là luôn nhớ đến ngày gian khổ xưa kia, ghi nhớ công ơn những người có công đối với làng quê. Việc bảo vệ và tôn tạo di tích này là một trong những công việc quan trọng nhất được chính quyền và nhân dân địa phương thực hiện đã góp phần gìn giữ những truyền thống tốt đẹp của quê hương.

<

Tin mới nhất

GIÁ TRỊ , HIỆN TRẠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ CỦA DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ KING CHIÊNG BOỌC MẠY(16/05/2021 5:31 CH)

Khảo tả lễ tục “Lăm Chá Kin Chiêng Boọc Mạy” (15/04/2021 5:26 CH)

Giá trị lịch sử văn hóa di tích thắng cảnh Phủ Na xã Xuân Du, huyện Như Thanh(16/03/2021 2:30 CH)

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ ĐỀN THỜ BẠCH Y CÔNG CHÚA THÔN PHÚ SƠN, XÃ PHÚ NHUẬN, HUYỆN NHƯ THANH,...(17/02/2021 4:28 CH)

LÒ CAO KHÁNG CHIẾN HẢI VÂN(09/02/2021 2:22 CH)

Lễ hội Phủ Na(31/01/2021 8:53 SA)

Kế hoạch số 01-KH/BTC ngày 26/10/2018 của Ban Tổ chức cuộc thi cấp huyện “Tìm hiểu 990 năm Danh...(09/11/2018 1:27 CH)

Giải câu lạc bộ bóng bàn Bến Sung lần thứ nhất(06/02/2017 10:04 CH)

Đánh giá của bạn về cổng thông tin điện tử
175 người đã bình chọn
876 người đang online